Cuối năm 1814, không khí ở New Orleans nặng nề như mây đen kéo đến trước cơn bão. Chiến tranh năm 1812 với Anh đã kéo dài hai năm, giờ đây đòn giáng chí mạng đang nhắm thẳng vào thành phố cảng quan trọng nhất miền nam nước Mỹ non trẻ này. Tướng Andrew Jackson vừa dẫn quân vào thành phố mấy tuần trước, giờ đứng trước tấm bản đồ nhăn nheo, nhìn đống quân lính tản mát trước mặt: tổng cộng chỉ có 1.200 người. Có những người là nông dân từ Tennessee mang theo súng săn tự chế, có lính da đen tự do, có cả chiến binh bộ lạc Choctaw, nhưng chẳng mấy ai có kinh nghiệm tác chiến hải quân. Trong khi đó, tin báo từ vịnh Mexico cứ liên tục dồn về: hạm đội Anh của đô đốc Cochrane đang kéo đến, 60 chiếc tàu chiến to lớn, chở theo 16.000 quân lính tinh nhuệ, vừa mới đốt cháy Washington D.C. mấy tháng trước, mục tiêu duy nhất là chiếm New Orleans để cắt đứt tuyến đường sống dọc sông Mississippi. Giữa thành phố và hạm đội Anh là một dải đảo ngập mặn, đầm lầy chằng chịt kênh rạch tên là Barataria, nằm cách New Orleans chừng 60 cây số về phía nam. Đảo này là điểm mấu chốt chiến lược cho cả hai bên: người Anh muốn đổ bộ qua đây để lẩn tránh hàng phòng thủ dọc bờ sông Mississippi, còn Jackson cần kiểm soát nó để chặn đứng bước tiến của địch. Nhưng Barataria không phải là đảo hoang - nó là hang ổ của người được mệnh danh là Tên cướp biển khét tiếng cuối cùng vùng vịnh Mexico: Jean Lafitte. Lafitte đã cư ngụ ở Barataria suốt hơn chục năm nay. Hắn tự xưng là tư nhân quân cầm lá thư ủy nhiệm từ nước Cộng hòa Cartagena, nhưng chính quyền Mỹ, đặc biệt là thống đốc William Claiborne, chỉ gọi hắn là Tên cướp biển, kẻ buôn lậu trộm cắp. Tại sao? Vì mỗi tháng, những chiếc tàu của Lafitte lại lén lút đưa về hàng trăm tấn hàng hóa: cà phê, đường, lụa, công cụ sản xuất... tất cả đều không đóng một xu thuế quan nào. Ngân khố liên bang mất không ít tiền, còn mấy thương nhân giàu có ở New Orleans thì tức điên vì hàng của Lafitte giá rẻ hơn một nửa hàng nhập khẩu hợp pháp. Thống đốc Claiborne căm ghét hắn đến mức treo thưởng 500 đô la cho cái đầu của Lafitte, mấy lần phái lính tuần tra đi đánh úp Barataria, tịch thu tàu bè của hắn. Thế nhưng dân chúng New Orleans lại yêu mến hắn như một vị ân nhân. Hàng của Lafitte giá rẻ khiến cả những người lao động nghèo nhất cũng có thể mua được cà phê uống, còn khi cơn bão năm 1812 đổ bộ tàn phá thành phố, chính đàn em của Lafitte là những người đầu tiên đưa thực phẩm, thuốc men đến cứu trợ, không đòi một xu nào. Đến cả bồi thẩm đoàn địa phương cũng nhiều lần từ chối kết tội đàn em của hắn, vì dân chúng không ai nỡ phản bội người đã giúp họ qua cơn khó khăn. Điều đặc biệt là dù bị gán mác Tên cướp biển, Lafitte chưa từng một lần tấn công tàu thuyền Mỹ. Hắn chỉ nhắm vào tàu Tây Ban Nha, tàu Anh và tàu Pháp, ngay cả khi gặp tàu Mỹ gặp nạn, đàn em của hắn còn ra tay cứu giúp thủy thủ đoàn nữa. Trong hắn, dù chưa từng làm thủ tục nhập tịch, vẫn coi mình là một phần của đất nước này, hay ít nhất là vùng đất Louisiana mà hắn đã gắn bó từ khi vùng này còn thuộc Pháp. Khi tin tức hạm đội Anh sắp đến lan khắp thành phố, Lafitte trở thành mục tiêu tranh giành của cả hai phe. Người Anh tiếp cận hắn trước: đại úy Lockyer mang theo thư của đô đốc Cochrane, hứa cho Lafitte và toàn bộ đàn em lệnh ân xá hoàn toàn, 30.000 bảng Anh tiền vàng, cùng chức sĩ quan hải quân Anh, chỉ cần hắn dẫn đường cho hạm đội qua các kênh rạch hiểm trở ở Barataria để đổ bộ rồi chiếm New Orleans. Vài ngày sau, sứ giả của Jackson cũng đến, nhưng thống đốc Claiborne đã bôi nhọ Lafitte trước mặt Jackson: "Tên cướp biển Lafitte là con rắn độc đấy tướng à, tin hắn là nó sẽ bán đứng ngài cho người Anh lấy vài nắm vàng đấy." Jackson vốn là người cương trực, không tin cậy mấy kẻ ôm hàm oán với chính quyền, nên cũng nửa tin nửa ngờ. Lafitte bị giằng xé ghê gớm. Trái tim hắn vốn thuộc về mảnh đất này, hắn không muốn người Anh đến chiếm New Orleans, phá nát cuộc sống của những người dân đã yêu mến hắn bấy lâu. Nhưng thực tế quá khắc nghiệt: quân Anh đông gấp mười lần Jackson, tàu chiến to như những ngọn núi, nhìn đâu cũng thấy thế lực của phe Anh áp đảo hoàn toàn. Dân chúng New Orleans, ngay cả những người từng nhận ơn Lafitte, giờ cũng vây quanh hắn ở quán rượu trên con hẻm Pirate's Alley, khuyên hắn nên đầu quân cho phe Anh: "Jean ơi, quân Anh đông thế kia, Jackson với đám nông dân 1.200 người sao mà giữ nổi thành phố? Nếu anh giúp người Anh, họ để anh giữ Barataria, lại còn giàu to. Nếu anh giúp Jackson mà thua, người Anh sẽ treo cổ anh lên làm gương cho Tên cướp biển khác đấy." Có kẻ còn thì thầm: "Claiborne sẽ không bao giờ tha cho anh đâu, dù anh có giúp Jackson thắng đi chăng nữa, hắn vẫn sẽ xử tử anh vì tội buôn lậu mà thôi." Lafitte ngồi nhìn làn khói thuốc lá sáo từ điếu tẩu, nhìn bàn tay đầy sẹo từ những trận đánh trên biển. Hắn biết người dân nói không sai: người Anh đã từng đánh úp Barataria hồi tháng 9, đốt cháy mấy chiếc tàu lớn nhất của hắn, hắn có thù với người Anh thật. Nhưng trái tim hắn vẫn hướng về nước Mỹ, hắn không nỡ phản bội những người dân đã coi hắn là ân nhân. Nhưng sự thực phũ phàng về quân số chênh lệch, về thái độ của chính quyền Mỹ với hắn, khiến hắn mỗi ngày một dao động, chẳng biết rốt cuộc mình nên đứng về bên nào.